A. Cách
ghen:
Cự Môn: chỉ sự nghi ngờ, thắc mắc, bất mãn đưa đến
dò xét, giám sát, theo dõi cử chỉ, lời nói và hành động của người
bị tình nghi. Nếu hãm địa, xu hướng quá khích sẽ rõ ràng hơn. Đối
tượng bị bao vây chặt chẽ, bị theo bén gót, bị điều tra từng bước,
bị hạch sách từng cử chỉ.
Hóa Kỵ: ngụ ý nghi ngờ, thắc mắc như Cự Môn nhưng
lại thêm tính đố kỵ, sợ người khác lấn lướt hoặc thay chân mình.
Thường nông nổi và dục động, dễ bị xao xuyến vì những chỉ dấu nhỏ
nhặt, nhưng cũng dễ nguôi, dễ quên để rồi dễ nhớ, dễ ghen trở lại.
Hình thái điều tra của Hóa Kỵ là thẩm vấn, dò hỏi,
gợi chuyện chặn đầu.
Quan Phù, Quan Phủ: chỉ sự cạnh tranh, thù vặt, thù dai thường
bắt nguồn từ một chỉ dấu bị phản bội nào đó. Đến giai đoạn Quan
Phù, sự hiềm khích xuất hiện, tác giả bắt đầu dấn thân đối phó
với một tình địch đã được nhận dạng, với người chồng/vợ đã có
bằng cớ hai lòng.
Thiên Hình: là nết ghen sâu sắc của một người thông
minh, biết dò xét, biết lý luận để khám phá những điểm lạ trong
thái độ, cử chỉ, ngôn ngữ, nếp sống của người kia. Bắt mạch rất
mau, hành động rất lẹ. Hình thái trả đũa của Thiên Hình thường có
tính cách vũ phu, mạnh bạo.
Thiên Cơ: cũng chỉ nết ghen của người có mưu trí,
tinh quái, theo kiểu Hoạn Thư. Thông minh trong lúc điều tra, Cơ cũng
khôn ngoan khi đối phó, thường là có kế hoạch tinh vi và ít khi thất
bại.
Liêm Trinh: chỉ sự khó tính, khắt khe trong tình yêu,
trong cuộc sống gia đạo. Liêm ghen vì thấy vợ/chồng phạm vào các
nguyên tắc căn bản của hạnh phúc, xáo trộn các tiêu chuẩn mà họ tự
vạch ra để duy trì hạnh phúc. Liêm có thể bao dung những hành động
bay bướm nhỏ nhặt, nhưng không tha thứ cái gì quá đáng phạm vào các
nguyên tắc bất dịch của hạnh phúc. Do đó, hình thái trả đũa thường
là gián đoạn khá dễ dàng như chấm dứt tình yêu chẳng hạn.
Tham Lang: nết ghen rất mạnh và thiếu suy nghĩ, có hình thái quá khích và
vũ phu, bất chấp hậu quả. Nết ghen nông nổi và cuồng nhiệt, hành
động theo bản năng nhất thời, nông cạn vì vậy sự đổ vỡ khó tránh.
Càng hãm địa, tính chất cực đoan càng mạnh.
Phá Quân: ghen tuông có tính phá hoại, nhằm trả đũa
gấp rút bằng hành động mau lẹ và mạnh mẽ, đôi khi tàn nhẫn, tương
tự như Tham Lang.
Thiên Tướng, Tướng Quân: ghen tuông rất dữ dội, vì không nhẫn nhịn
được trước sự bất bình, phải ra tay can thiệp ngay. Cả hai cùng chỉ
sự nóng tính như lửa, nhất là Tướng Quân, vừa nóng lại vừa liều,
làm càn, làm bạo, dám đi đến những hành động quyết liệt ăn thua đủ,
nhất là khi bị khiêu khích. Tự ái của hai sao này rất lớn.
Phục Binh, Thiên Không: trong việc đối phó, chỉ sự rắp tâm, có
chuẩn bị kỹ lưỡng để ra tay bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn trá ngụy,
gian hiểm như tổ chức theo dõi, bắt ghen tại trận chứ không chịu cản
trở suông. Cách ghen đó chạm tự ái nạn nhân rất nặng nề, đi đến đổ
vỡ dễ dàng. Nếu bị Tuần, Triệt có thể bắt ghen hụt.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: có ý nghĩa cô đơn, cô độc, ít giao thiệp,
tình cảm hướng nội và bị dồn ép, kén chọn bạn trăm năm vì thế
không có lợi cho hôn nhân. Khi có gia đình, ba sao này có nghĩa ghen tuông một cách ích kỷ,
nhỏ mọn, hay gắt gỏng vì những chuyện vặt, thường là thúc thủ đau
khổ ngầm, không giãi bày được với ai. Sự dồn ép dày vò đương sự có
khi đưa đến một phản ứng rất bất ngờ khó lường, tự mình hành động
tay đôi với tình địch hoặc tự mình rút lui âm thầm.
Hóa Quyền: chỉ người tự ái lớn, thích chỉ huy, không
chấp nhận lép vế trong địa vị độc tôn của mình. Hóa Quyền ghen phần
lớn do tự ái nhiều hơn là do tình yêu. Chính vì vậy, phản ứng của
Quyền khá mạnh bạo và kiên trì cho đến khi khuất phục được đối thủ
mới thôi. Nếu xoa dịu và gãi trúng chỗ tự phụ của Quyền, nết ghen
tuông sẽ giảm đi nhiều, khả dĩ chấp nhận tính bay bướm của bạn trăm
năm, miễn là đương số vẫn giữ ưu thế đối với người bạn trăm năm và
với tình địch. Phái nam mà có Quyền, bao giờ cũng phải dứt khoát,
không chấp nhận thành phần thứ ba trong cuộc sống lứa đôi.
B. Cách
nóng nảy
Bản Mệnh hỏa, Cục hỏa đều là bừng chứng của sự nóng nảy. Nếu
Bản Mệnh hỏa gặp Cục mộc thì tính nóng nhiều hơn. Có thể chia các
sao hỏa chỉ sự nóng nảy làm hai hạng, dựa trên tính chất hung hay
cát của sao:
a. Hạng nặng:
- Địa Không - Phục Binh - Quan Phù
- Địa Kiếp - Phi Liêm - Quan Phủ
- Hỏa Tinh - Đại Hao - Thái Tuế
- Linh Tinh - Tiểu Hao - Tử Phù
- Thiên Không - Lực sỹ - Điếu
khách
- Kiếp Sát - Phá toái - Bệnh
- Thiên Hình - Tuế Phá
b. Hạng vừa:
- Thái Dương - Thiên Quan - Nguyệt Đức
- Liêm Trinh - Thiên Phúc - Đẩu Quân
- Thiên Khôi - Thiên Đức - Văn Tinh
- Thiên Việt - Thiếu Dương
- Thiên Mã - Hỷ Thần
Các sao hạng vừa là những quý tinh, văn tinh, phúc tinh vì là sao
tốt nên hình thái nóng nảy tương đối nhẹ hơn hung sát hao bại tinh.
Tuy nhiên, không phải chỉ có sao hỏa mới nóng nảy. Có nhiều sao
thuộc 4 hành khác cũng đồng nghĩa. Chẳng hạn như Tướng Quân (Mộc),
Thất Sát, Trực Phù, Kình Dương, Đà La (Kim), Thiên Tướng, Tham Lang,
Phá Quân, Hóa Quyền, Thiên Sứ (Thủy), Thiên Thương, Thiên La, Địa Võng,
Tuyệt (Thổ).
C. Cách
tự ái
Liêm Trinh: chỉ sự khó tính, khắc nghiệt, tự ái lớn,
bắt nguồn từ sự nóng nảy cố hữu hoặc từ những nguyên tắc xử thế
mà đương số xem là bất di, bất dịch phải có trong mối tương quan giữa
mình và kẻ khác. Hãm địa, mức độ sẽ cao.
Hóa Quyền: đúng là tính tự phụ, tự đắc, mạnh hơn nữa
là tự cao tự đại, kiêu ngạo, khinh bạc kẻ khác, xem mình như cao hơn
người, coi rẻ người dưới, óc tranh quyền cao, không chấp nhận lép vế.
Đối với con người có quyền tước, niền tự ái này càng lớn, thường
có xu hướng độc tôn, độc tài và hình thái rất lộ liễu.
Lâm Quan: chỉ sự khoe khoang, tự đề cao, tự kỷ ám
thị, thích quảng cáo mình, thích được khen tặng. Vì ý nghĩa tương
đối không đẹp nên Lâm Quan nhiều khi chỉ hình thái tự ái không có căn
bản như tự ái hão, không đúng chỗ, lúc nào cũng tự xem mình cao hơn
người, trịch thượng một cách lố bịch mà chính đương sự không biết,
không nhận thức được.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: chỉ sự tự ái ngầm, hoặc dưới hình thức
tự trọng hoặc dưới hình thức tự kìm chế không bộc lộ. Cả ba hội
tụ nhau chỉ sự khó tính, ít giao thiệp, ít cởi mở, thúc thủ vì
không ai ăn ở vừa ý mình, chung cuộc chỉ có mình mới vừa ý mình.
Theo nghĩa khác, ba sao này chỉ sự nhút nhát, khắc kỷ.
Tướng Quân, Thiên Tướng: chỉ nóng nảy hơn là tự ái, nhưng đó cũng
là một hình thái tự ái lớn, do sự thiếu nhẫn nhục khi bị va chạm,
xu hướng can thiệp vào những chuyện bất bình dù là của kẻ khác
nhưng bị cho là xúc phạm đến mình. Thiên Tướng thì đôn hậu hơn trong
khi Tướng Quân thì xông xáo, tích cực, hiếu thắng. Đứng riêng, hai sao
này chỉ sự tự ái đúng chỗ, khi nào bị va chạm, hoặc bị kẻ khác vi
phạm vào những quy tắc xử thế bất công. Nếu đi chung, hai sao này biểu lộ niềm tự ái lớn vô
cùng.
Thiên Khôi, Thiên Việt: chỉ tinh thần lúc nào cũng ganh đua và cạnh
tranh, ít khi chấp nhận thua kém, dù là thua kém chút ít. Tự ái của
Khôi Việt chính đáng và hướng thượng.
Quan Phù, Hóa Kỵ: tự ái của hai sao này nhỏ mọn hơn, tinh
thần cạnh tranh thiên về đố kỵ, ghen ghét, bực tức. Phù và Kỵ không có khả năng thi đua, tranh
thắng bằng thiên hạ mà chỉ có tinh thần ganh tỵ, thường biểu lộ
bằng nhiều thái độ không mấy quang minh, chính đại.
Sát, Phá, Liêm, Tham: đây là cách tự ái của con nhà võ, bén
nhạy, dễ bị khích động vì cá tính của Sát, Phá, Liêm, Tham rất
mạnh, bao giờ cũng chực áp đảo, lấn át kẻ khác. Nếu đắc địa thì
hình thái nhẹ.
D. cách
ích kỷ
Không, Kiếp hãm địa (ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu
và Tuất): trong một lá số gian phi, cao độ ích kỷ
chưa từng thấy vì đương sự đang tâm chiếm đoạt tư hữu của thiên hạn
bỏ túi mình, thậm chí dùng thủ đoạn phi nhân, phi pháp và ám muội
để làm lợi cho mình. Đây là tính ích kỷ bất nhân, bất lương, làm
giàu phi nghĩa, coi thường đạo đức, dư luận,
luật pháp, sinh mạng. Nếu đắc địa, tính ích kỷ họa chăng sáng suốt
hơn, tùy trường hợp, tùy người mình giao thiệp, nhưng tựu trung không
mất được tính chất vị kỷ.
Vũ, Tham: chỉ nết tham tiền, hám lợi, nhiều khi bất
chấp sự phải chăng, nết của hạng ích kỷ con buôn, trục lợi, chỉ
biết vét tiền, ít chịu xuất tiền cho ai hoặc cho ai vay mượn, chỉ
biết có thu vào thôi. Những bộ sao liên hệ có thể kể: Tham Lang Hóa
Lộc, Tham Lang Lộc Tồn, Tham Lang Đại Tiểu Hao ...
Hóa Kỵ, Cự Môn: tính nhỏ nhen, đố kỵ, ganh tỵ của sao này
là biểu hiện của tính ích kỷ, không muốn ai hơn mình.
Quan Phù, Quan Phủ: ý nghĩa cạnh tranh, ganh đua, câu chấp, đố
kỵ, coi nặng quyền lợi của mình.
Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân: ba sao này chỉ tính nết khó khăn, không dung
hợp được với bạn bè, nặng về mình, ít chiều chuộng, ít giao thiệp,
thúc thủ, chỉ biết sống cho mình: đó là những nét cá tính của sự
ích kỷ. Ngoài ra, đối với tiền bạc, ba sao này hà tiện, tiêu xài kỹ
lưỡng, suy tính nhiều nên ích kỷ về tiền bạc.
Tử: chỉ sự suy xét tính toán quá kỹ lưỡng
trước khi hành động, cái gì cũng mang ra bàn tính hơn thiệt do đó
không hào sảng hay quảng đại.
Lộc Tồn: là cách chặt chẽ về tiền bạc, do sự tính
toán cân nhắc trước khi tiêu xài, chưa kể sự chắt mót, hà tiện khả
hữu.
E. Cách
đa ngôn
Thái Tuế: là sao điển hình cho tính đa ngôn, ngồi lê
đôi mách, lúc nào cũng có đề tài
phiếm luận, thường nói về người khác hơn là về mình. Là một khía
cạnh của sự hùng biện nếu Tuế đi liền với sao văn học. Trái lại,
nếu ở lá số xấu, Tuế thường chỉ họa vì lời nói, vạ miệng khẩu
thiệt, xuyên tạc, thêm bớt.
Lưu Hà: chỉ sự nói nhiều, đôi khi nhảm nhí. Đi với
khoa tinh thì hùng biện, giống nghĩa như Thái Tuế với sao văn học.
Hóa Kỵ: nặng về phê bình kẻ khác với ít nhiều ác
ý, ghen ghét.
Đà La, Thái Tuế: lời nói sai ngoa, ngang bướng, bất chấp lẽ
phải, có tác dụng để cãi lộn hơn là lý luận tranh biện. Tuế, Đà
là hạng người mỏng môi, bép xép, lải nhải không dứt, gây sự chán
ghét, tạo ra vạ miệng, đôi co, khích bác.
Phục Binh: chỉ sự nói xấu, xuyên tạc, hại người khác
bằng vu cáo, gièm pha với nhiều tiểu tâm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét