1. Chính
tinh hãm địa:
Tham Lang hãm địa: chỉ sự ham muốn quá độ, cuồng vọng thực
hiện ý muốn của mình, không kể đến đạo đức, liêm sỉ. Đây là sao của
người ích kỷ và bất nhẫn, hành động theo dục vọng và bản năng hơn
là lý trí. 4 vị trí xấu của Tham Lang cho các tuổi như sau:
Tuổi
|
Cung
Mệnh có Tham Lang tại:
|
Thân, Tý, Thìn
|
Tý
|
Dần, Ngọ, Tuất
|
Ngọ
|
Hợi, Mão, Mùi
|
Mão
|
Tỵ, Dậu, Sửu
|
Dởu
|
Tại 4 vị trí này, Tham Lang có nghĩa là trộm cắp, gian xảo. Đi
chung với sát tinh, ý nghĩa này càng gia tăng. Riêng phụ nữ, Mệnh có
Tham Lang và Đào Hoa còn bị cho là độc ác, thâm hiểm và dâm đãng,
trừ phi được Tuần, Triệt khắc chế.
Phá Quân hãm địa: hung tợn, nham hiểm và bất nhân, báo hiệu
nhiều điềm dữ. Những vị trí hãm địa của sao này là ở Mão, Dậu,
Tỵ, Hợi, Dần, Thân.
Vài biệt lệ cho Phá Quân hãm địa như sau:
Tuổi
|
Cung
Mệnh có Phá Quân tại
|
ất, Tân, Quý
|
Mão, Dậu
|
Giáp, Canh, Đinh
|
Dần, Thân
|
Kỷ, Mậu
|
Tỵ, Hợi
|
Gặp các vị trí này, Phá Quân đỡ xấu về tai họa nhưng tính nết
xấu kể trên vẫn không mất.
Gặp sát tinh hãm đại hay Đại Tiểu Hao, Hổ, Ky, Hình, Phá Quân hãm
địa càng làm tăng tính nết gian phi, dù có được sao giàu, sao quý hỗ
trợ cũng không mất nghĩa xấu. Đó là những kẻ bất lương làm giàu hay
những người có quyền mà bất nhân, bất nghĩa. Tiền bạc và quyền hành thường thủ đắc bằng
thủ đoạn hèn hạ, phi nghĩa, xét ra còn nguy hiểm hơn hạng người bất
lương mà nghèo hèn.
Phá Quân, Liêm Trinh ở Mão,
Dậu
Bộ sao này có nghĩa độc ác, hay hại người, xuống tay không nể
tình. Nam thì tàn bạo, phá hoại, nổi loạn; Nữ thì đa tật, hung dữ,
chưa kể lăng loàn.
Đi chung với Hỏa, Linh hay Tả Hữu, nết dữ càng mạnh thêm, con
người chẳng khác gì thú dữ.
Phá Quân, Vũ Khúc ở Tỵ,
Hợi: đây
là bộ sao tham lận, bất lương, hay có thói lường gạt, ăn gian, biển
lận chỉ vì ham tiền.
Tham Lang, Liêm Trinh ở Tỵ,
Hợi: chỉ
tính nết đàng điếm của nam số và tính giang hồ của nữ số. Những
hành động gian phi thường bắt nguồn từ động lực tình dục. Về mặt
họa, đây là bộ sao chỉ ngục hình.
Vũ Khúc, Thất Sát hãm địa
(ở Mão, Dậu, Thìn và Tuất): ý nghĩa tương tự như Vũ,
Phá đồng cung.
Các chính tinh khác đi chung với sát tinh, ý nghĩa gian phi cũng
tiềm tàng. Đó là trường hợp sát tinh hãm địa đi với Nhật, Nguyệt
hãm hoặc với Cơ dù miếu hay hãm địa hoặc cả với Tử, Phủ hãm địa.
2. Những
phụ tinh hãm địa:
Địa Không, Địa Kiếp hãm
địa (trừ ở Tỵ, Hợi, Dần và Thân): đại diện cho loại gian phi cực hung, có mưu
lược xảo quyệt và cao thâm lại có hành động ác độc và bất ngờ. Đi
chung với cac sao xấu khác hoặc với các chính tinh hãm đại, tính nết
và hành vi gian phi của Không Kiếp càng mạnh thêm, thiên về bá đạo,
cực đoan, cuồng tín. Trong bối cảnh bất hảo như thế, Không Kiếp bao
giờ cũng là sao gây họa cho người khác và rước họa cho chính mình.
Tai họa này thường khủng khiếp, tàn bạo và thảm khốc. Đi chung với
sao tốt, việc làm gian ác cũng không giảm bao nhiêu, duy ở vị thế
tiềm tàng, lúc bột phát thì không lường trước được, Không Kiếp lúc
nào cũng mang họa hay bất lợi cho sao tốt. Trong cách võ của một quân nhân, Không
Kiếp lại hữu dụng, nhờ ở mưu lược, sự can đảm liều mạng với địch.
Phục Binh hay Thiên Không: chỉ thủ đoạn, tráo trở, lật lọng, gài
bẫy để mưu lợi riêng cho mình, bất chấp quyền lợi kẻ khác. Nếu lá
số xấu, Phục Binh chỉ người ăn cắp, ăn gian, thủ đoạn hoặc là kẻ
gièm pha, ám hại, a tòng với gian phi làm chuyện bất chính, bất
nghĩa. Đi với sao tài, Phục Binh chỉ sự lường gạt tiền bạc, ăn chặn,
đục khoét, làm tiền kẻ khác. Đi với sao tình thì đây là sự dụ dỗ,
gạt tình làm cho người kia sa vào nghiệp chướng của ái tình, của sa
đọa. Đi với sao quyền, Phục Binh chỉ sự sử dụng quyền hành để hiếp
đáp, khống chế người khác. Hai sao này còn có nghĩa chính mình là
nạn nhân của kẻ khác nếu lá số xấu: đó là những người bị lừa, bị
cắp, bị gạt tình hay gạt tiền, bị chèn ép, phục kích, phỉ báng.
Phục Binh hay Thiên Không đều có nghĩa là thông minh, cái thông minh
của hạng gian xảo, quỷ quyệt, nhẹ hơn là sự liến thoắng, cắc cớ,
trêu chọc, phá phách, đùa dai. Đi với Tả Hữu, hai sao này càng xấy
thêm vì có sự kết bè họp đảng hành động bất chính.
Hóa Kỵ, Thái Tuế: nếu đi với các gian tinh
khác, chỉ hình thức hại người bằng lời nói như vu cáo, vu khống,
xuyên tạc, thêm bớt với ác ý, dã tâm. Động lực hầu như vì đố kỵ,
cạnh tranh, tự ái lớn hoặc vì bị chỉ trích, bị tố cáo. Bằng không,
chỉ là gièm xiểm, chê bai, ngồi lê đôi mách thông thường.
Thiên Hình, Kiếp Sát: đứng riêng rẽ, Hình và Kiếp Sát không có
nghĩa gian phi mà chỉ tai họa do kiện tụng và ẩu đả. Nếu đi chung
với nhiều gian tinh khác, nết gian của hai sao này là đả thương, cố ý
gây thương tích cho đối thủ, tạo tàn tật, bệnh hoạn, kiểu như tạt
axít, rạch mặt, bắt giam (Thiên Hình) bắt cóc, đầy ải, tra tấn. Về
dụng cụ, Hình và Kiếp Sát là vật nhọn thì dao găm, búa rìu, lựu
đạn hay súng được dùng làm vũ khí.
Thiên Hình, Lực Sỹ: trong lá số xấu, Hình và Lực ở Mệnh có
nghĩa là ăn trộm, đạo tặc.
Kình Dương, Đà La hãm địa (ở Tý, Dần, Mão, Ngọ, Thân và Dậu): hung bạo, liều lĩnh, độc
ác, hay giết chóc, phá hoại, gây tai họa. Vì Kình Đà đều chỉ chân
tay cho nên có nghĩa đánh đập, gây thương tích ở tứ chi, dùng tay giết
hại người khi hai sao này đi chung với Thất Sát hãm, Phá Quân hãm,
Không, Kiếp hãm ...
Hỏa Tinh, Linh Tinh hãm địa
(ở Tý, Sửu, Mùi, Thân, Dậu, Tuất
và Hợi): cũng
gần đồng nghĩa với Kình Đà hãm địa nhưng mạnh hơn về hậu quả. Hỏa
Linh hãm địa là đoản thọ sát tinh cho nên việc trả thù có thể nguy
hiểm cho tính mạng đối thủ bằng các phương tiện như lửa, điện, lựu
đạn, đốt nhà, chất nổ...
Lưu Hà: Đứng riêng, chỉ có nghĩa gian hiểm, độc ác
sát phạt, gây tai họa. Đi chung với các gian tinh khác, hình thái hại
người có thể liên quan đến nước. Đi với Kiếp Sát, Lưu Hà trở nên nguy
hiểm, có thể giết người.
3. Những
sao trợ gian
Tả Phù, Hữu Bật: chỉ tòng phạm hay đồng phạm. Có Tả Hữu,
gian phi sẽ có bè cánh, có chi nhánh, có hệ thống. Hai sao Phục Binh
và Thiên Mã đồng nghĩa với Tả Hữu trong trường hợp này.
Hóa Quyền: đi với sao hung, Quyền sẽ trợ hung. Quyền
tượng trưng cho sự lạm quyền, việc dùng thế lực để yểm trợ gian phi,
dùng quyền hành chi phối cộng sự để cưỡng chế họ hoạt động cho
mình.
Đẩu Quân, Lưu Hà, Lực Sỹ,
Thiên La, Địa Võng, Tướng Quân, Phục Binh, Quan Đới: có tác dụng làm tăng thêm hung tính cho các
gian tinh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét