Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Khái Niệm Và Thuật Ngữ Cơ Bản Trong Tử Vi

Những người mới học thường không biết bắt đầu từ đâu và cũng chưa quen thuộc với "ngôn ngữ" tử vi. Khi đọc các tài liệu sẽ cực kỳ cảm thấy mông lung, chính vì vậy với phương châm "dẫn dắt" người bình thường đến với tử vi, Tôi sẽ chỉ dẫn từng bước để mọi người có thể có cái nhìn khái quát nhất để tiếp xúc với bộ môn tử vi từ cơ bản đến nâng cao.



Đầu tiên phải kể đến hơn 100 vì sao ( các vị tinh tú)  tùy thuộc vào mỗi trường phái 
1. Miếu địa 
Vị trí tốt đẹp nhất đối với một sao. Miếu địa ví như nơi mà sao đó được thờ kính.
2. Vượng địa 
Vị trí thuận lợi đối với một sao.
3. Đắc địa 
Vị trí hợp với một sao.
4. Bình hòa 
Vị trí không làm cho sao thêm sáng sủa, mà cũng không làm cho sao bị mờ ám.
5. Hãm địa 
Vị trí bất lợi đối với một sao, làm cho sao đó bị mờ ám.
6. Sao tọa thủ 
Sao đã được an tại một cung.
7. Sao đơn thủ 
Sao đã được an tại một cung, nhưng không gặp Chính diệu khác cũng tại cung đó.
8. Nhiều sao tọa thủ đồng cung 
Nhiều sao đã được an tại cùng một cung.
9. Nhiều sao hội hợp 
Nhiều sao gặp nhau tại cùng một cung, hay chiếu lẫ
n nhau.
10. Sao sáng sủa tốt đẹpSao có đặc tính tốt, hay sao đã được an tại một trong những vị trí mà đối với sao đó là miếu địa, vượng địa, đắc địa.
11. Sao mờ ám xấu xa 
Sao có đặc tính xấu, hay sao đã được an tại vị trí mà đối với sao đó là hãm địa
- Một vài thuật ngữ chung

1. An sao: là những phương thức để xác định vị trí của khoảng 110 sao lên trên địa bàn

2. Âm dương: là hai khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ. ÂM thể hiện cho những gì yếu đuối nhỏ bé, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại … đối lập nó là DƯƠNG thể hiện sự mạnh mẽ, cho ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn … Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên Âm và Dương được gọi là triết lý Âm Dương. Đây cũng là triết lý xuyên suốt môn tử vi.

3. Ngũ Hành: Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại. Tức năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ

4. Thiên can (gọi tắt là can): là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý. Gồm 10 can chia theo âm dương thì 5 can âm, 5 can dương, mỗi nhóm can âm, can dương lại phân ra ngũ hành là kim mộc thủy hỏa thổ. Can tính Dương gồm: Giáp hành mộc, Bính hành hỏa, Mậu hành thổ, Canh hành kim, Nhâm hành thủy. Can tính Âm gồm: Ất hành mộc, Đinh hành hỏa, Kỷ hành Thổ, Tân hành kim, Quý hành thủy

5. Địa chi (gọi tắt là chi): là Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi (dân gian gọi là 12 con giáp). Tổng cộng 12 chi, phân ra ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Chỉ có Thổ là 4 địa chi gồm Thìn Tuất Sửu Mùi. Thìn Tuất lại còn gọi là Thiên la Địa võng – Thìn là Thiên la, Tuất là Địa võng. Cụ thể

Tý (chuột) – Dương thủy; Sửu (trâu) – Âm thổ; Dần (hổ) – Dương mộc; Mão (mèo) – Âm mộc; Thìn (rồng) – Dương thổ; Tị (rắn) – Âm hỏa; Ngọ (ngựa) – Dương hỏa; Mùi (dê) – Âm thổ; Thân (khỉ) – Dương kim; Dậu – Âm kim; Tuất (chó) – Dương thổ; Hợi (lợn) – Âm thổ.

6. Ngũ hành sinh khắc :

Ngũ hành tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim

- Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên (thuỷ sinh mộc)
- Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hoả)
- Tro tàn tích lại đất vàng thêm (hoả sinh thổ)
- Lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim)
- Kim loại vào lò chảy nước đen (kim sinh thuỷ)
Ngũ hành tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim

- Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc thổ)
- Đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thuỷ)
- Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (thuỷ khắc hoả)
- Lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hoả khắc kim)
- Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc)
7. Địa chi lục hợp
Tý Sửu hóa hợp thuộc Thổ, Dần Hợi hóa hợp thuộc Mộc, Mão Tuất hóa hợp thuộc Hỏa, Thìn Dậu hóa hợp thuộc Kim, Tị Thân hóa hợp thuộc Thủy, Ngọ Mùi hợp, Ngọ là Thái dương, Mùi là Thái âm.
8. Địa chi lục xung
Khái niệm “xung” ở đây có nghĩa là “động”, chính là quan hệ bản cung và đối cung. Không phải giống như luận “xung phá”. Nguyên tắc:
Tý Ngọ tương xung, Sửu Mùi tương xung, Dần Thân tương xung, Mão Dậu tương xung, Thìn Tuất tương xung, Tị Hợi tương xung
9. Địa chi tam hội
Địa chi tam hội cục, trong môn đẩu số cùng với Địa chi lục xung ở trên cùng rẩt quan trọng, đó là vị trí cung tam phương và cung đối. Là các cung có ảnh hưởng khi luận đoán. Nguyên tắc:
Thân Tý Thìn tam hội Thủy cục, Hợi Mão Mùi tam hội Mộc cục, Dần Ngọ Tuất tam hội Hỏa cục, Tị Dậu Sửu tam hội Kim cục
10. Cung:
Là 12 ô vuông xung quanh Thiên bàn, được đặt tên theo mười hai địa chi là Tý, Sửu.v.v.. đến Hợi, mỗi cung phản ảnh một lĩnh vực, một mặt của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức, cha mẹ… Các cung trên địa bàn lần lượt là: Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu thê, Huynh đệ.

Trên lá số , các cung còn có tên gọi như sau

Tứ Sinh: Bốn cung Dần Thân Tị Hợi (còn gọi là Tứ mã chi địa – đất của Thiên mã)
Tứ Mộ: Bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi
Tứ Chính: Bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu (Đào hoa chi địa – đất của Đào hoa)

11. Bản cung
Bản cung (bản phương) là một từ riêng để gọi cung đang xem xét. Xem xét Mệnh cung thì Mệnh cung là bản cung, nghiên cứu Phu Thê cung thì Phu Thê cung là bản cung. 12 cung trên lá số đều có thể là bản cung.
12. Đối cung
Đối cung (đối phương): tức cung ở vị trí đối diện với bản cung (xem địa chi lục xung)
Khi luận bản cung cát hung thì đối cung có ảnh hưởng lớn, tầm quan trọng chỉ đứng sau bản cung. Trên lá số thì Tý Ngọ, Sửu Mùi, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tị Hợi là các cung đối chiếu, vậy là đối cung của nhau
13. Tam hợp:
Chỉ các cung thuộc nhóm Địa chi tam hội: Thân Tý Thìn, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất, Tị Dậu Sửu. Ví dụ cung Tý là Bản cung thì tam hợp là hai cung Thân, Thìn. Cung Dậu là Bản cung thì tam hợp là hai cung Tị, Sửu.

14. Tam phương tứ chính:
Tam phương: dùng khi xét các cung thuộc nhóm tam hợp. Tứ chính: dùng khi xét các cung thuộc nhóm Tứ sinh hoặc Tứ chính hoặc Tứ mộ.
15. Lân cung ( lân phương )
Chỉ hai cung trước và sau bản cung. Ví dụ mệnh cung là bản cung, thì phụ mẫu, huynh đệ là hai lân cung. Đối với mệnh cung thì lân cung cũng có ảnh hưởng, tuy nhiên ảnh hưởng ít hơn đối cung và tam hợp cung. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ (cách giáp)
16. Giao hội
Chỉ các sao ở bản cung, đối cung, tam hợp cung khi hội hợp. Bản cung, đối cung, tam hợp cung có thể là một chỉnh thể dùng để luận đoán, đặc biệt khi luận cát (tốt) hung (xấu) của mệnh cung thì cần phải phân ra mức độ quan trọng của các cung đối và tam hợp
17. Thủ chiếu
Sao ở tại bản cung thì gọi là “thủ”, “chiếu” là chỉ các sao tại tam hợp và đối cung, có thể gây tác động đến bản cung. Ví dụ như “tứ sát thủ chiếu phu thê cung” tức là chỉ Dương Đà, Hỏa Linh bốn sao đó có tại cung Phu thê, cung Quan lộc (đối cung) và cung Thiên di, Phúc đức cùng hội hợp
18. Lục Thân cung: các cung Mệnh, Huynh, Phu thê, Tử tức, Nô bộc, Phụ mẫu.
19. Đại vận (hay còn gọi là đại hạn): chỉ vận hạn trong 10 năm.
20. Tiểu vận (còn gọi là tiểu hạn): chỉ vận thế trong 1 năm
21. Tam cát: Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa
22. Tứ Hóa: Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa, Hóa kỵ
23. Lục cát: Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật
24. Tứ sát: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la
25. Lục sát: tứ sát thêm Địa không, Địa kiếp
26. Lưu niên (hay còn gọi là thái tuế): chỉ vận thế trong năm đó (năm lưu thái tuế)
ĐỂ CHI TIẾT HƠN CÁC BẠN XEM DƯỚI ĐÂY CHO DỄ HIỂU
-CHÍNH TINH :Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân .  
14 chính tinh lại phân ra NAM ĐẨU TINH : Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát,, Thiên Đồng, Thái Dương, Thiên Cơ   và BẮC ĐẨU TINH: Thái âm, Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân . TRỪ  TỬ VI thuộc cả Nam Lẫn Bắc Đẩu Tinh
-PHỤ TRỢ CHÍNH TINH :Phụ trợ Chính Tinh phát huy tác dụng cùng phát triển biến hóa gọi là phụ trợ tinh diệu, chỉ Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã, Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ loại mười tám tinh viên diệu. Tổng cộng ở trên Chính Tinh cùng Phụ tinh đều thuộc Giáp Cấp tinh, chung ba mươi hai sao
-Phó tinh, tạp diệu : chúng ta đem ngoại hạng tinh gọi phó tinh, từ Bính cấp trở xuống gọi là tạp diệu
-CÁT TINHchỉ những sao có lợi cho đương số. Giống nhau xưng Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc gọi là Lục Cát Tinh. Thêm Lộc Tồn, Thiên Mã gọi là Bát Cát Tinh. Chính Tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng, Vũ Khúc loại là chính tông Phú Quý Phúc Lộc đứng đầu Cát tinh. Ngoài ra, trong tứ hóa tinh Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền cũng Cát tinh
-SÁT TINH đối với đương số có những sao mang tính chất phá hư, ức chế, suy vong, thất lạc gọi chung là sát tinh. Giống nhau xưng Tứ Sát tinh là: Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh. Gia tăng Địa Không, Địa Kiếp gọi là lục sát tinh.
-TỨ HÓAchỉ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ là loại tứ tinh viên diệu, gọi là tứ hóa diệu. Chính Tinh cát hung biến hóa đều chỉ ra bốn loại kết quả. Tứ hóa tinh mặc dù không phải Chính Tinh, nhưng có tác dụng rất lớn, nhất là Hóa Kỵ tinh, có tác dụng phá hư và không thua gì lục sát tinh, gia nhập vào bộ lục sát được xưng là Thất sát tinh.
-LƯU TINH chỉ Đại Hạn, Tiểu Hạn, Lưu Niên, Lưu Nguyệt, Lưu Nhật, tùy năm tháng thời gian biến hóa mà thay đổi tinh diệu, những tinh diệu này tác dụng có thời hạn xác định, quá thời hạn thì trở thành phế thãi. Lưu niên tinh khá nhiều, có lưu niên lấy trước mười hai sao, kiểu Lưu Dương, Lưu Đà, Lưu Hỏa, Lưu Linh, Lưu Lộc, Lưu Mã, Lưu Loan, Lưu Hỉ, Lưu Khôi, Lưu Việt, Lưu Xương, Lưu Khúc, lưu niên tứ hóa các loại
-TÊN GỌI TẮT CỦA SAOđẩu số tinh diệu đa số là song tự, như Tử Vi, Thiên Cơ,… nhằm tiện biên soạn, dụng một chữ là đại biểu, như Tử Vi tên gọi tắt Tử, Thiên Cơ tên gọi tắt Cơ, Tham Lang tên gọi tắt Tham hoặc Lang, Vũ Khúc tên gọi tắt Vũ, Văn Khúc tên gọi tắt Khúc, Lưu niên Kình Dương tên gọi tắt Lưu Dương, Lưu niên Đà La tên gọi tắt Lưu Đà. Lưu ý, trong sách xưa thường thường đem Kình Dương gọi là Hình, Đà La gọi là Kỵ, quyển sách giống nhau đem Kình Dương gọi là Dương, đem Đà La gọi là Đà, đem Thiên Hình gọi là Hình, đem Hóa Kỵ gọi là Kỵ.
-CUNG VIÊN mệnh trên đồ bàn cùng sở hữu mười hai phương cách, từng phương cách xưng làm một cung viên, toàn bộ mệnh của đương số diễn hóa qua mười hai cung: Cung Mệnh, Cung Huynh Đệ, phu thê cung, Cung Tử Nữ, Cung Tài Bạch, Cung Tật Ách, Thiên Di Cung, Cung Nô Bộc, Cung Quan Lộc, Cung Điền Trạch, Phúc Đức cung, Cung Phụ Mẫu; Địa chi mười hai cung là chỉ: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; mười hai địa chi cung vị trí vô luận thiên mang đều cố định bất biến.
- BẢN CUNG chỉ chủ sự hướng tới cung. như khán huynh đệ chuyện tình, thì dùng Cung Huynh Đệ làm chủ tới xem đến, sở dĩ Cung Huynh Đệ chính là ngươi quan trọng luận sự tình thì đích Bản cung. nếu vấn phụ mẫu tình huống, thì dùng Cung Phụ Mẫu vì bản cung, chờ một chút. mười hai cung đều có thể vì bản cung
-CUNG ĐỐI ( XUNG CHIẾU ) : là cung nằm ở vị trí đối diện với bản cung, tầm quan trọng chỉ đứng sau bản cung. Khi luận đoán về trạng thái hung cát của bản cung thì cung xung chiếu cũng có ảnh hưởng không nhỏ.
-CUNG TAM HỢP: tiếp xúc địa chi cung tam hợp . như Thân Tý Thìn , Tỵ Dậu Sửu , Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất. Với Bản cung cách ba vị, thành tam giác đều đích ba cung tức là cung tam hợp , vừa xưng tam phương.
-TAM PHƯƠNG TỨ CHÍNH : chỉ Bản cung đích cung tam hợp là tam phương, Bản cung đích đối xung cung là tứ chính. Cung tam hợp cùng đối xung cung hợp lại gọi chung là tam phương tứ chính. Phân tích tam phương tứ chính để xác định Bản cung đích mạnh yếu cát hung là đẩu số luận mệnh đích trọng yếu một khâu, là người sự tình số phận phân tích đích đầu mối chính, khảo sát nhân sự cát hung đích vào tay chỗ.
-LÂN CUNG ( Cung Kế )Hai cung liền kề hai bên bản cung được gọi là lân cung, tuy mức độ ảnh hưởng không mạnh bằng tam phương tứ chính, nhưng đối với 1 số cặp sao vẫn có tác dụng tốt xấu khá quan trọng.
-GIÁP BIÊN CÁCHNếu 2 cát tinh rơi vào 2 cung kế bên được gọi là Phò Trợ, còn nếu là 2 hung tinh giáp biên thì rơi vào thế kìm kẹp
-TỌA VÀ CỨCát tinh nhập Bản cung gọi là Tọa, hung tinh nhập Bản cung gọi là Cứ .
-CHẦU VÀ XUNGCát tinh ở cung đối diện gọi là Chầu, hung tinh ở cung đối diện gọi là Xung.
-PHỤ VỚI GIÁP : Cát tinh ở riêng lưỡng hàng xóm cung khiếu phụ, hung tinh ở riêng lưỡng hàng xóm cung khiếu giáp. ở tại thực tế vận dụng trung, Bản cung đích Tả Hữu lưỡng hàng xóm cung khiếu giáp cung, cát hung tinh nhập lưỡng hàng xóm cung cũng gọi giáp, như nhật nguyệt giáp mệnh, Không Kiếp giáp mệnh loại.
-CỦNG CHIẾU Cát tinh rơi vào tam phương, tứ chính mà hội chiếu được cọi là Củng
-ĐẠI HẠN : con người suốt đời có thể phân chắc chắn giai đoạn, mỗi mười năm làm một đơn vị, gọi là Đại Hạn. Đại Hạn là người suốt đời kinh lịch kỷ cái trọng yếu giai đoạn đích chìm nổi đường cong, đúng là mười năm cát hung tình huống đích tổng quát.
-LƯU NIÊN : tiếp xúc sinh ra sau đó mỗi một năm đích vận khí tình huống. Lưu niên hàng năm đều ở biến hóa.
- THIÊN LA ĐỊA VÕNG : chỉ mệnh trên bàn đích Thìn Tuất nhị cung, đúng là buộc chặt ở ý tứ . Thìn là Thiên La, Tuất là địa võng.
 Tứ ác diệu: chỉ Sát, phá, liêm, tham. Chủ yếu bởi vì chúng nó dễ hướng hỏng phương diện phát triển, một ngày thất hãm, gặp Hung Sát thì bộc lộ bộ mặt hung ác. nhưng nhập hội chùa cát cũng có tốt đẹp chính là tác dụng, lớn nhất vết thương sức lực cùng vượt qua phát kỳ ngộ.
 Miếu: tinh diệu ở vào sáng nhất đích lúc. Bất luận cái gì tinh diệu nhập miếu, đều có thể đầy đủ phát huy của nó tốt đẹp tác dụng, Cát tinh phùng hướng tới càng thêm cát, hung tinh phùng hướng tới bất hung, gia sát ảnh hưởng cũng không lớn.
Vượng: tinh đích độ sáng gần với miếu, lực lượng thuộc trung thượng, nhiều hiện lên tốt, gia sát ảnh hưởng cũng không quá lớn.
 Đắc địa: độ sáng hơi yếu hơn vượng, thuộc trung cát, lực lượng tương đối ổn định không đổi cải biến. Gia sát hội có ảnh hưởng, ở tại thực tế vận dụng trung, tái sinh vượng đến đối đãi.
Lợi ích: độ sáng tương đối đắc địa kém, nhưng thuộc Tiểu Cát, nhưng có lợi Chính Tinh đích phát huy, hung tinh nên yên lặng không thích hợp động. Gặp cát gia tăng độ sáng, nhưng không có khả năng đạt được miếu vượng đích mức độ, gặp sát ảnh hưởng trọng đại.
 Bình thản: tinh diệu dĩ hầu như vô lực, hung cát cũng không lợi phát huy, nhiều hiện lên hung đích tác dụng, dễ dàng kẻ khác tinh diệu đích ảnh hưởng, gặp cát còn có thể không có trở ngại, gặp sát thì hung. ở tại thực tế vận dụng trung, tái sinh thất hãm đối đãi.
 Đình trệ: tinh đích độ sáng hoàn toàn không có, lực lượng hoàn toàn không có, ở vào bị động cục diện, khuyết điểm hoàn toàn bại lộ. nhân sự đích vận thế ở vào hạ u ám thời kì, Cát tinh bất cát, hung tinh càng thêm hung. Gặp cát cũng nan nâng dậy, gặp sát càng thêm hung.
Rỗi rãnh cung: đúng là nhàn rỗi, tác dụng không lớn ý tứ. Lực lượng ở vào trung tính, tác dụng hiển hiện không được.
Tứ mã địa: lại bảo tứ sinh địa, tiếp xúc Dần Thân Tỵ Hợi tứ cung. mệnh nhập chủ vất vả cực nhọc, rời xa nơi chôn rau cắt rốn, dễ dàng chịu người chế trụ, tự tìm phiền não.
Tứ mộ khố: lại bảo tứ Mộ, tiếp xúc Thìn Tuất Sửu Mùi tứ cung. mệnh nhập hình phạt chính, cô độc, hình khắc lục thân, vứt bỏ tổ ly tông, bề ngoài bình tĩnh, nội bộ nhiều dao động.
Tứ bại địa: tiếp xúc Tý Ngọ Mão Dậu tứ cung, là Đào Hoa nơi. mệnh nhập, tương đối phong lưu háo sắc, nhân duyên hảo, cảm tình phức tạp, nguyên nhân Phúc Đức cung tất ở tại tứ mã cung, cố nhiều phiêu đãng.
Nam nữ âm dương: dương năm sinh đích nam nhân xưng dương nam, dương năm sinh đích nữ nhân xưng dương nữ, âm năm sinh đích nam nhân xưng âm nam, âm năm sinh đích nữ nhân xưng âm nữ.
Cách cục: hay quần tinh tổ hợp cùng một chỗ hình thành đích nhất quần thể kết cấu, bố cục ý tứ . Tử Vi Đẩu Số đích cách cục nhiều vì bản cung hoặc với tam phương tứ chính cung hoặc Tả Hữu giáp cung đích tinh diệu hướng tới đang lúc phối hợp mà thành đích một ít quy định đích, hợp cách đích tổ hợp thể, bố cục, chia làm cát cách cùng hung cách, đúng là tiền nhân thực tiễn kinh nghiệm đích kết tinh, đối cát hung phán đoán có rất trọng yếu đích chỉ đạo ý nghĩa.
Cục giống: hay tinh diệu quần thể bố trí thành đích cục thể kết cấu sở cho thấy tới hình tượng, giống toan tính, tình thế. Đẩu số trung đích cục giống, đúng là biểu hiện cát hung họa phúc đích hình tượng, giống toan tính, xu thế.
Tinh đích âm dương: tinh diệu đều có âm dương đích thuộc tính, dương tinh tương đối hoạt bát, mặt ngoài tính cường, mạnh mẽ nhiều động; âm tinh không quá hoạt bát, tương đối âm nhu ít động.
Địa chi Lục Hợp: tiếp xúc mệnh trong mâm mười hai địa chi đích Lục Hợp cung, có chứa không bàn mà hợp ý nhau tác dụng, chứng tỏ hai người quan hệ trong đó mật thiết tương quan ( hai người bổn phận ra chủ khách, Bản cung làm chủ, lai hợp Bản cung này là khách; hai người quan hệ đích tốt xấu tựu quần chúng cung đích tốt xấu, khách cung hảo biểu thị đối phương rất tốt với ta, thì hai người quan hệ hảo, khách cung hỏng thì hai người quan hệ bất hảo ). Ví dụ Cung Mệnh với Cung Phụ Mẫu Lục Hợp, biểu thị ta cùng với phụ thân đích quan hệ cùng một nhịp thở, Cung Mệnh cho ta làm chủ, Cung Phụ Mẫu là khách, Cung Phụ Mẫu hảo thì quan hệ hảo, Cung Phụ Mẫu hỏng thì quan hệ bất hảo; nếu như Phúc Đức cung với Cung Huynh Đệ Lục Hợp, của ta tập tính ham với mẫu thân, huynh đệ cùng một nhịp thở, Phúc Đức cung cho ta làm chủ, Cung Huynh Đệ là khách, Cung Huynh Đệ hảo thì đối với ta đích hưởng thụ có bang trợ, Cung Huynh Đệ bất hảo thì đối với ta hưởng thụ bất lực.
Đối tinh: đối tinh hay ghép thành đôi, có đôi có cặp ý tứ . Trong Tử Vi Đẩu Số đem tác dụng xấp xỉ hoặc âm dương hỗ trợ lẫn nhau đích cả hai tinh diệu cấu thành ghép thành đôi tinh, trong Tử Vi Đẩu Số đại đa số tinh diệu đều là ghép thành đôi xuất hiện đích. Ví dụ Phủ tướng, nhật nguyệt, Tả Hữu, Xương Khúc, khôi việt, lộc mã, Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp, Thương Sứ, hình Diêu, Tam Thai Bát Tọa, khốc trống rỗng, long phượng, Thai Phụ phong cáo, hồng hỉ loại đều là đối tinh. Đối tinh cùng cung hoặc song song xuất hiện tại Bản cung đích tam phương tứ chính cung thì, lực lượng trọng đại; mặt khác ít thấy đơn tinh thì lực lượng tương đối nhỏ, có lúc thậm chí còn đưa đến không tốt đích tác dụng, ví dụ lục Cát tinh hướng tới đơn tinh giữ tại lục thân cung phản không hề tốt đích tác dụng.
Thể cùng Dụng: thể, hay thân thể, bản thể, thân người, chủ thể, căn cơ ý tứ . Dụng, đó là sống động, phát triển, phụ thuộc, cành lá ý tứ . một có thân thể, tựu không khả năng có hoạt động, sở dĩ thể dùng là quan hệ đúng là: tiên có thể, sau đó mới có tác dụng; thể chỉ huy Dụng, Dụng phụ thuộc tại thể; thể là yên lặng giống, Dụng là động giống. Thân thể hảo, hoạt động năng lực tài cường; thân thể xui xẻo, hoạt động năng lực tựu kém. ở tại trong Tử Vi Đẩu Số, Bản Mệnh mang là thể, là yên lặng, là đại cục, là đại tượng, là đại thế, là chỉnh thể; hạn vận là Dụng, là động, là nhỏ cục, là nhỏ giống, là nhỏ thế, là cụ thể; Cung Mệnh là thể là nội, còn lại mười một cung là Dụng là ngoại; Chính Tinh là thể, trợ tinh, phó tinh, tứ hóa thành Dụng. Đại tượng cát, như trụ cột vững vàng, chống lại sóng gió, đại tượng hung như trong gió cỏ nhỏ, lớn gió thổi qua thì nhổ tận gốc. Khán mệnh dùng thể làm chủ, nhìn xuống số, lớn thể, xu thế, triệu bày ra, dùng Dụng làm phụ, khán biến hóa, ứng với số, cụ thể, kể lại. ở tại cung viên trung, dùng Chính Tinh Chính Tinh là thể, đối nhân xử thế sự tình đích chủ thể, lớn thể, thân cây, bối cảnh; dùng phó tinh sao nhỏ làm phụ, đối nhân xử thế sự tình đích cụ thể, cành lá, tiền cảnh. ở tại cung với tinh trung, cung là thể, là căn cứ địa; tinh diệu là Dụng, là hồn phách.
Thuận đi với đi ngược chiều: với đồng hồ báo thức kim đồng hồ vận hành phương hướng nhất trí, xưng thuận kim đồng hồ phương hướng. ở tại đẩu số trong mười hai cung, án thuận kim đồng hồ phương hướng một cung một cung địa mấy cái khứ gọi là thuận đi. Với đồng hồ báo thức kim đồng hồ vận hành phương hướng tương phản, xưng nghịch kim đồng hồ phương hướng. ở tại đẩu số trong mười hai cung, án nghịch kim đồng hồ phương hướng một cung một cung địa mấy cái khứ gọi là đi ngược chiều.
Không tinh: bao quát Thiên Không, Triệt Không, Tuần Không tam tinh.
Hạn năm: trong sách thường xuất hiện có” hạn năm” hai chữ, là Đại Hạn cùng lưu niên đích tên gọi tắt. Trong đó hạn chỉ Đại Hạn, tên gọi tắt là” hạn” ; năm chỉ lưu niên, tên gọi tắt là” năm” .
Cường cung, kém cung: cường cung là đúng bản thân số phận ảnh hưởng trọng đại đích cung độ; kém cung là đúng bản thân số phận ảnh hưởng tương đối nhỏ đích cung độ. nam mệnh dùng mệnh, thân, tài, quan, phúc, điền, Thiên Di loại cung là cường cung, còn lại huynh, vợ, một chút, tật, nô, phụ loại cung là kém cung. nữ mệnh dùng mệnh, thân, phu, một chút, tài, điền, phúc loại cung là cường cung, còn lại huynh, tật, Thiên Di, nô, quan, phụ loại cung là kém cung. ở đây đích cường cung kém cung chỉ là tương đối mà nói, trên thực tế có lúc chờ kém cung đối số phận ảnh hưởng cũng là tương đối lớn đích.

DÃY KHÁI NIỆM:

LỤC CÁT TINH

6 sao phụ trợ: Tả Phù – Hữu Bật – Thiên Khôi – Thiên Việt – Văn Xương – Văn Khúc, gọi tắt là Phù Bật Khôi Việt Xương Khúc. + Lộc Tồn + Thiên Mã = Bát cát tinh

LỤC SÁT TINH

6 sao phá tán: Kình Dương – Đà La – Địa Không – Địa Kiếp – Linh Tinh – Hỏa Tinh, gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa. + Hóa Kỵ = Thất sát tinh

LỤC BẠI TINH

6 sao ám trở: Tiểu Hao – Đại Hao – Tang Môn – Bạch Hổ – Thiên Khốc – Thiên Hư, gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư.

TỨ HÓA

Hóa Khoa – Hóa Quyền – Hóa Lộc – Hóa Kỵ

TỨ LINH

Long Trì – Phượng Các – Bạch Hổ – Hoa Cái

TỨ ĐỨC

Nguyệt Đức – Thiên Đức – Phúc Đức – Long Đức

TỨ SINH – TỨ TUYỆT – TỨ MỘ

TỨ SINH (mã địa – bôn ba)
Dần Thân Tỵ Hợi
TỨ TUYỆT (bại địa – phiêu đãng)
Tý Ngọ Mão Dậu
TỨ MỘ (mộ khố – cô độc)
Thìn Tuất Sửu Mùi
Ta thấy các Khác nhau từng đôi một :
- Cung Tỵ (Hỏa) đối lập với cung Hợi (Thủy)
- Cung Thân (Kim) đối lập với cung Dần (Mộc) 
- Cung Ngọ (Hỏa) đối lập với cung Tý (Thủy) 
- Cung Mão (Mộc) đối lập với cung Dậu (Kim)
- Cung Thìn (Thủy) đối lập với cung Tuất (Hỏa)
- Cung Sửu (Kim) đối lập với cung Mùi (Mộc)
Vậy khi các cung nói trên mang chủ đề gì (trong 12 chủ đề : Mệnh, Phụ, Phúc, Điền, Quan, Nô, Di, Ách, Tài, Tử, Phối, Bào) thì chúng xung khắc nhau như bản chất cung của nó.
Các sự xung khắc trên là một điều loan báo đối với đương số. Để tùy nghi chọn lựa một trong hai điều : Hoặc chọn Tiền Bạc hay chọn Phúc Đức; hoặc muốn Con Cái an toàn hay muốn Nhà đất khang trang …
RIÊNG VỀ TỨ MỘ ĐỊA
MỐI QUAN HỆ GIỮA KHO VÀ NGŨ HÀNH
Trong năm hành: kim,mộc,thủy,hỏa,thổ thì hành thổ là hành trung ương,mỗi hành còn lại cuối cùng đều được thổ chứa đựng- gọi là mộ.
Vì thế ta có tứ mộ là: thìn ,tuất,sửu,mùi.Chia thành thìn-tuất,sửu-mùi từng đôi 1 xung nhau nhưng không khắc.
– Thìn là mộ của thuỷ,
– Tuất là mộ của hoả,
– Mùi là mộ của mộc,
– Sửu là mộ của kim.
Trong tứ mộ ta thấy rằng:
– Tuất là mộ kho của hỏa mà hỏa lại sinh thổ,cho nên tuất là mộ khố rất bền và hành chứa trong nó bị tiết khí do sinh cho mộ khố.
– Thìn là mộ kho của thủy mà thủy bị thổ khắc vì thế Thìn là mộ kho cũng khá vững chắc và có thể nhôt thủy rất chặt.Ngược lại,thủy bị đe đọa bởi chính cái kho chứa đựng nó.
– Sửu là mộ kho của Kim mà kim được thổ sinh cho ,cho nên kim chứa không kho Sửu sẽ ngày càng mạnh hơn,giống như đang được kho tiếp sức dữong thương vậy.Ngược lại,do sinh cho kim cho nên Sửu kho sẽ bị hao tổn cho nên việc chứa đựng của nó sẽ không chắc chắn.
– Mùi là mộ kho của mộc mà mộc khắc thổ,cho nên đây là cái kho yếu nhất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét