1. Cách
đa phu tại cung Phu:
Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia
đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có
vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn
trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên
hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai
đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn
bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ
có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.
Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm
địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần.
Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.
Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc
địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo
hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ
hủy hoại một lần hôn nhân.
Tuần, Triệt hoặc Tuần,
Triệt đồng cung: chỉ
sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ
hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần,
Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó
tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc,
Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng
có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là
trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc
phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm
không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có.
Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ
nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.
Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần,
đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.
Tử Vi, Tham Lang hội Tả,
Hữu: Riêng
Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc
nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân tình.
Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên
Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một
vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo,
sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của
người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào
Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái
diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.
Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần
nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào
Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là
chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để
thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở
Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại
tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích)
hoặc kiện ly dị.
Đào Hoa hay Hồng Loan gặp
Hóa Kỵ: không
nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự
đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là
có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan
chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa
"phu". Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá
rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.
Long Trì, Phượng Các, Tả
Hữu: Long
Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh,
tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp
của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên
ưng ý.
Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi
đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình
trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai
mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái,
chia ly.
Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.
Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên
Riêu: Cự ở
Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục.
Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự
ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình
xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh
lý.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức
hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng
có một đời con trước rồi mới họp nhau.
2. Cách
đa phu tại cung Mệnh hay Thân:
Đào Hoa hay Hồng Loan với
Thiên Riêu: đa
tình, đa dâm, dù đã có chồng.
Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham
Lang đồng cung: chỉ
sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện.
Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao
Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".
Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh
lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể
xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang
hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.
Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục:
Mộc Dục và Hoa Cái
chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm
đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người
chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người
phải chết mê, chết mệt vì họ.
Tướng, Khúc, Mộc, Cái,
Đào: chỉ
sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai
mặt, quyền thế, sang trọng.
Tham Lang hay Thất Sát ở
Dần, Thân: chỉ
người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn
là vì tình yêu
Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu,
có thể có hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình
trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải
tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn
bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi
lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát
tinh).
Chính tinh hãm địa ở Mệnh:
cũng là một bất
hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với
phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý
cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn,
chắp nối.
3. Cách
đa phu ở cung Nô:
Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.
Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên
Đồng: háo
dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu
thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai
tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn
thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa
là yêu trộm, thương thầm, có khi
chỉ một chiều.
Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông
thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng
Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên
có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại
trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.
4. Cách
đa phu ở cung Tử:
Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng: Thiên Tướng, Tuyệt - Thái Âm, Thiên
Phúc - Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung - Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu -
Phục Binh, Tướng Quân - Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.
5. Cách
đa phu ở cung Thê của phái nam:
Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.
Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay
ngoại tình.
Đào, Thai hay Hồng Riêu hay
Riêu Thai: vợ
ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.
Thất Sát hay Phá Quân ở
Thìn, Tuất: vợ hai
lòng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét