1. Cách
giải họa qua các sao:
a. Chính tinh:
Có thể nói tất cả chính tinh đắc địa trở lên đều có ý nghĩa
phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc địa, hiệu lực càng
mạnh. ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt.
Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi
liền nhau, hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa. Trong số chính tinh
miếu, vượng và đắc địa, có vài sao có hiệu lực giải họa mạnh: Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Thiên
Phủ, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ.
Nếu hãm địa, khả năng cứu giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị
Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không được phục hồi như ở
miếu, vượng địa mà chỉ tương đương với sao đắc địa.
Vũ Khúc: là sao giải họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc
miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì
không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ
Khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh
càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.
Thiên Tướng: khắc chế được sát tinh. Có võ tinh khác đi
kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ Khúc đồng cung, hiệu lực
của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa,
bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương, Thiên
Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với
Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu
bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.
Tử Vi: là cách giải họa gián tiếp vì (i) Tử Vi
che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử Vi chỉ ban phúc
chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với
sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác
như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm
nghèo: tuy không chết nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật;
(ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con
người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc; (iii) Tử Vi ban cho công danh,
quyền thế trong xã hội, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.
Thiên Phủ: cũng có đặc tính như Tử Vi nhưng hiệu lực
kém hơn. Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối chọi với sát tinh:
có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ có
đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối
hợp. Lẽ dĩ nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp
và Phủ còn chịu thua Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp
Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải.
Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp
nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây
biến động lớn cho cuộc đời. Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương
sinh, Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng
không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách
này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.
Thiên Lương: nếu đóng ở cung Phúc thì đức của ông bà di
truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân,
tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương chỉ kìm
chế được hung tinh mà thôi.
Thiên Đồng: ý nghĩa tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu
lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận
nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối với
bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy
tiêu hóa vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.
Thái Dương, Thái Âm sáng
sủa: chỉ
sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ
trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ
dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tuy nhiên, đối với bệnh tật,
Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh
thần kinh, bệnh tâm trí và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu
lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng
cung ở Sửu Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả
năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ.
Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ
đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.
Thiên Cơ: chỉ người vừa hiền vừa khôn (tương tự như
Nhật Nguyệt) nên có hiệu lực cứu giải. Nhưng về mặt bệnh lý, Thiên
Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.
b. Phụ tinh:
+ Những giải tinh bắt nguồn từ linh
thiêng: được cụ thể hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho
con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai họa; những vận hội tốt
đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi
đặc biệt cho riêng mình. Gồm các sao: Ân
Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên
Phúc
+ Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp
đỡ của người đời: Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất,
Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng trưng
cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng
chỉ cứu họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính
mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở
Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần đi chung với chính tinh
đắc địa.
+ Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng
đức con người:
Hóa Khoa: là giải tinh rất mạnh bao trùm cả bệnh,
tật, họa.
Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng
mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một
Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có
hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm.
Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban ngày và cung dương. Tam
Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật. Nếu bị sát tinh đi kèm, Hóa
nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị
họa về mặt đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm,
Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa
bảng lận đận.
Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt
Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh
đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của
Tứ Đức không có gì đáng kể.
Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực
kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.
+ Những giải tinh khác:
Thiên Tài: ý nghĩa giải họa của Thiên Tài chỉ có khi
nào sao này gặp sao xấu vì nó làm giảm bớt tác hại của sao xấu. Do
đó Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt tuy không mạnh bằng. Tuy
nhiên, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay.
Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên
ít nhiều, do đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.
Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu
lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu
như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì la
sao hao nên kỵ đóng ở cung Tài.
Cách sinh, khắc vợ
chồng - những sao xung, hợp gia đạo
1. Sự
khắc hợp giữa trai gái tính theo can:
a. Năm trường hợp tốt:
- Giáp hợp Kỷ -
Đinh hợp Nhâm
- ất hợp Canh -
Mậu hợp Quý
- Bính hợp Tân
b. Mười trường hợp xấu:
- Giáp phá Mậu -
Kỷ phá Quý
- ất phá Kỷ -
Canh phá Giáp
- Bính phá Canh -
Tân phá ất
- Đinh phá Tân -
Nhâm phá Bính
- Mậu phá Nhâm -
Quý phá Đinh
2. Sự
khắc hợp giữa trai gái tính theo chi:
a. Vấn đề hợp:
Tam hợp gồm:
- Dần, Ngọ, Tuất
- Thân, Tý, Thìn
- Tỵ, Dậu, Sửu
- Hợi, Mão, Mùi
Nhị hợp gồm:
- Tý hợp Sửu -
Thìn hợp Dậu
- Dần hợp Hợi -
Tỵ hợp Thân
- Mão hợp Tuất -
Ngọ hợp Mùi
b. Vấn đề khắc:
- Tý khắc Ngọ -
Tỵ khắc Hợi
- Mão khắc Dậu -
Thìn khắc Tuất
- Dần khắc Thân -
Sửu khắc Mùi
3. Việc
lập gia đình qua các sao:
a. Những sao hỷ tín:
Thông thường, các sao hay bộ sao may mắn nói chung đều có nghĩa hỷ
tín khi đi chung với sao tình duyên hay sao cưới hỏi, bao gồm: Thiên Hỷ-Hỷ Thần; Thanh Long-Lưu Hà;
Thanh Long-Hóa Kỵ; Thiên Mã-Tràng Sinh; Thiên Mã-Điếu Khách-Thiên Khốc;
Ân Quang-Thiên Quý; Thiên Quan-Thiên Phúc; Tả Phù-Hữu Bật; Tứ Đức nhất
là Nguyệt Đức và Thiên Đức.
b. Những sao tình duyên:
Hầu hết bao gồm các sao tình dục nếu kết hợp với sao hỷ tín
thì dễ quyết đoán có hôn nhân, đặc biệt nhất là những sao dưới đây: Đào Hoa-Hồng Loan; Thiên Riêu-Thai; Mộc Dục-Hoa Cái; Liêm
Trinh-Tham Lang.
c. Những sao cưới hỏi: bao gồm: Long
Trì-Phượng Các, Thanh Long
d. Những sao hao tài: Đại Hao, Tiểu Hao
e. Những sao làm cho nhanh
hay chậm: thông
thường là các sao hành Hỏa và Bắc Đẩu là hai loại sao hối thúc,
khiến hôn nhân sớm thành. Còn Nam Đẩu vì ăn về sao cho nên có ý nghĩa
chậm hơn. Đặc biệt là những sao Phi
Liêm, Hỏa Tinh, Linh tinh có tác dụng hối thúc. Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự bất thần, đột
ngột. Thiên Khôi, Thiên Việt chỉ
sự vừa ý. Các Nam Đẩu vì hiệu lực về sau cho nên báo hiệu hôn nhân
vào nửa năm sau.
4. Những
sao bất lợi cho hôn nhân:
Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu
Quân: chỉ
sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập
gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp
nhiều sao tình duyên bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ:
Thái Tuế đối nghĩa
với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan Phù và Quan
Phủ chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ
cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này
còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm
địa: chỉ
sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi
bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa
đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh
phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.
Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn
nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong
trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc
trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét